28 tháng 2, 2011

Bệnh u não ở trẻ em

Trong số các loại khối u ở trẻ em thì u não là nguyên nhân gây tử vong hay gặp nhất. U não trẻ em thường là u nguyên phát, hiếm có u thứ phát.
Ở trẻ em, u não là loại u đặc hay gặp nhất và là loại u đứng hàng thứ hai sau bệnh ung thư máu, trong khi u não nguyên phát ở người lớn chỉ đứng hàng thứ 8.
Dấu hiệu nhận biết
U não trẻ em chiếm 15% ung thư ở trẻ dưới 16 tuổi. Tỷ lệ mới mắc u não là 5-10/100.000 trẻ em/năm. Mỗi năm ở Mỹ phát hiện khoảng 2000-2200 ca u não ở trẻ em. Tại Khoa Phẫu thuật thần kinh, Bệnh viện Việt Đức mỗi năm mổ 150-200 ca u não trẻ em.

Bệnh nhi u não có thể biểu hiện bằng nhiều dấu hiệu do hội chứng tăng áp lực trong sọ, hội chứng tiểu não, hội chứng chèn ép khu trú... Dấu hiệu khác so với u não ở người lớn là đầu to, thóp phồng, thóp giãn, giãn khớp so (hay gặp ở trẻ dưới 2 tuổi) hay bệnh nhi rất hay nôn, dễ nôn (nhiều trường hợp đã được chẩn đoán bệnh lý tiêu hóa và nằm điều trị ở khoa tiêu hóa dài ngày). Dấu hiệu u não có thể khác nhau ở mỗi bệnh nhi do vị trí, kích thước và giai đoạn của khối u.
Hội chứng tăng áp lực trong sọ: hay gặp nhất là đau đầu, buồn nôn, nôn (buổi sáng), thay đổi tính tình, dễ bị kích thích, ngủ gà hay trì trệ, chậm tiếp thu, không tập trung trong lớp học. Một số trường hợp nôn nhiều và rất dễ nôn, có khi được chẩn đoán bệnh lý tiêu hóa và điều trị nhiều tuần lễ trong khoa tiêu hóa. Đôi khi bị rối tuần hoàn (mạch chậm) và hô hấp. Khi bệnh nặng, trẻ lơ mơ, bán mê hoặc hôn mê. Bệnh nhi là trẻ nhỏ có đầu to, thóp rộng, căng, khớp sọ bị toác rộng. Trẻ đầu to quá không nhấc nổi đầu, da đầu xuất hiện nổi mạch máu như trẻ bị não úng thủy điển hình.

Rối loạn do chèn ép tiểu não, hành não, thân não và cầu não: Khi bị u ở hố sau (chiếm 50-55% u não trẻ em), trẻ có dấu hiệu tăng áp lực trong sọ và dấu hiệu của chèn ép tiểu não hay cấu trúc lân cận. Bệnh nhi đứng không vững hay không đi được, đi lại loạng choạng, mất điều hòa động tác như quá tầm, sai hướng.
Dấu hiệu thần kinh khu trú: Khối u ở nền sọ, vùng tuyến yên, tuyến tùng... có thể gây ra dấu hiệu như rối loạn nội tiết, đái nhạt, chậm dậy thì, lùn tuyến yên, nhi tính, phát triển không bình thường. U chèn ép dây II gây nhìn mờ, bán manh, đôi khi mù. Hoặc có dấu hiệu parinaud ở bệnh nhân u vùng tuyến tùng, rối loạn thức - ngủ. U chèn ép dây VIII gây ù tai, nghe kém hoặc điếc. U vùng trán gây rối loạn hành vi, u vùng ngôn ngữ gây nói khó, nói ngọng hay câm. Bệnh nhi có thể bị động kinh, liệt mặt, khó nuốt. U chèn ép vùng vận động gây liệt chi, liệt nửa người. U ở hố sau, phần trên tủy sống có thể khiến bệnh nhi đau sau gáy, khó quay cổ, liệt tứ chi, rối loạn cảm giác chi, rối loạn cơ tròn...
U não ở hố sau thường có dấu hiệu tăng áp lực trong sọ, não úng thủy, hội chứng tiểu não, liệt dây thần kinh sọ hoặc chèn ép thân não và hành tủy. U ở trên lều thường chỉ có dấu hiệu tăng áp lực trong sọ, động kinh. Hoặc u ở vùng tuyến yên, tuyến tùng hay trong não thất có những đặc điểm riêng.
Tóm lại, dấu hiệu u não ở trẻ em đôi khi rất khó khám. Trẻ có thể chỉ bị nôn hay đau đầu bất thường nên hay bị chẩn đoán muộn. Nếu nghi ngờ u não nên chụp cắt lớp vi tính hoặc cộng hưởng từ.
Các phương pháp chẩn đoán bệnh lý u não
Ngày nay chúng ta có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh trong chẩn đoán bệnh lý u não. Tuy nhiên, cộng hưởng từ và cắt lớp vi tính là hai thăm dò có vai trò đặc biệt quan trọng để chẩn đoán u não trẻ em. Những thăm dò hình ảnh khác có giá trị gợi ý hoặc bổ sung thêm trong chẩn đoán và điều trị.
Điều trị u não trẻ em
Phẫu thuật: Điều trị u não trẻ em chủ yếu dựa vào phẫu thuật. Phẫu thuật triệt để khối u là biện pháp điều trị tốt nhất cho trẻ em, tuy nhiên điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí, kích thước và mức độ xâm lấn khối u, kinh nghiệm phẫu thuật viên, vấn đề gây mê hồi sức và vấn đề di chứng sau mổ. Phẫu thuật lấy u não trẻ em gặp nhiều khó khăn do tư thế khó, khó cố định đầu, tắc mạch do khí nếu mổ tư thế ngồi, mất máu...
Điều trị não úng thủy: Trên 30% u não hố sau có não úng thủy trước và sau điều trị. Phẫu thuật nội soi não thất tại Bệnh viện Việt Đức đã gần thay thế hoàn toàn phẫu thuật dẫn lưu não thất - ổ bụng kinh điển. Mổ nội soi não thất là phẫu thuật rẻ tiền, ít biến chứng, nhanh, ít di chứng và tái lập tuần hoàn nước não tủy một cách sinh lý hơn. Mổ nội soi não thất còn tránh được di căn khối u ác tính từ não xuống ổ bụng.
Xạ trị: Có tác dụng trong một số loại u não trẻ em, nhất là Medulloblastoma, Germinoma. Điều trị xạ trị là cần thiết nếu còn sót u sau phẫu thuật. Tuy nhiên, xạ trị có thể ảnh hưởng lâu dài tới sự phát triển của trẻ nên phải cân nhắc kỹ trước khi quyết định xạ trị. Một số trường hợp có thể chờ đợi tới khi trẻ lớn sẽ giảm thiểu được tác dụng phụ do tia xạ.
Hóa trị: Chỉ định điều trị cho những u ác tính mức độ cao ở trẻ em. Hóa chất có rất nhiều tác dụng phụ, đôi khi hóa chất còn "ác tính" hơn cả khối u não! Chính vì vậy, nên cân nhắc kỹ trước khi sử dụng hóa chất cho u não ở trẻ em.
 ____________________________________________________
Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

27 tháng 2, 2011

Bệnh đái tháo đường ở trẻ em

Theo thạc sĩ – bác sĩ Lê Thị Hải, Viện Dinh dưỡng Quốc gia, hiện nay, tình trạng trẻ em mắc đái tháo đường type 2 có xu hướng gia tăng ở các nước thuộc khu vực châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, khác với người lớn, đái tháo đường ở trẻ em rất khó khống chế do trẻ vẫn cần dinh dưỡng để phát triển. Chưa kể đến sự “thiếu hiểu biết” của một bộ phận không nhỏ phụ huynh.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy, tình trạng trẻ mắc đái tháo đường type 2 ngày càng tăng là do thói quen ăn uống và lối sống thiếu lành mạnh. Thống kê ở Nhật Bản và Trung Quốc cho thấy, tỉ lệ trẻ đái tháo đường type 2/type 1 ở lứa tuổi học sinh trung học là 4/1. Còn ở nước ta, không ít lần báo giới đã lên tiếng về những trường hợp trẻ nhỏ (cấp tiểu học) mắc đái tháo đường type 2. Trường hợp nhỏ nhất là một bé 6 tuổi hiện đang điều trị tại Bệnh viện Nội tiết.
Nguyên nhân do lối sống
Đái tháo đường type 1 ở trẻ là bệnh có tính chất di truyền, do rối loạn tổng hợp insulin, rối loạn nơi sản xuất insulin, có tính chất bẩm sinh nhiều hơn, bắt buộc phải điều trị bằng insulin thay thế. Đái tháo đường type 2 vốn thường gặp ở người lớn do liên quan đến yếu tố ăn uống, béo phì, cao huyết áp, lười vận động không tiêu hao năng lượng…, phải điều trị bằng thuốc và kết hợp điều chỉnh chế độ ăn, giảm cân.
Vì vậy, theo bác sĩ Lê Thị Hải, đa phần trẻ mắc đái tháo đường type 2 ở nước ta thường gắn liền với chứng thừa cân, béo phì, do lối sống thiếu cân bằng và chứng ăn uống thiếu điều độ gây nên. Một phần nguyên nhân nữa là do nhận thức của những người làm ông bà, cha mẹ. Bác sĩ Hải cho biết, không ít trường hợp bệnh nhi đến khám ở tình trạng thừa cân, béo phì và có nguy cơ mắc đái tháo đường type 2 cực cao. Nhưng khi bác sĩ tư vấn về chế độ ăn uống thì các bậc phụ huynh lại “giãy nảy” lên mà rằng con họ chỉ hơi mũm mĩm thôi và cháu lười ăn lắm (?!)…
Trong khi đó, việc điều trị bệnh cho trẻ đái tháo đường type 2 không hề đơn giản. Thông thường, người mắc đái tháo đường type 2 ngoài dùng thuốc còn phải tuân theo một chế độ ăn kiêng cực kỳ nghiêm ngặt. Nhưng với trẻ, nhất là những trẻ đang độ tuổi phát triển, không thể bắt trẻ kiêng khem quá mức. Hơn thế nữa, với trẻ, việc tạo lập một ý thức về bệnh không dễ.


Bên cạnh đó, việc điều trị bệnh đái tháo đường không đúng sẽ gây ra những biến chứng nhất định, trong đó có hạ đường huyết. Do não trẻ em cần được cung cấp đường hằng định, nên khi hạ đường huyết sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến não, làm giảm sự phát triển của não. Kết quả giảm trí thông minh và giảm thị lực nếu tình trạng hạ đường huyết kéo dài hoặc xảy ra thường xuyên.
Ăn cân bằng, vận động hợp lý
Theo bác sĩ Hải, cách hạn chế tốt nhất căn bệnh này là áp dụng một chế độ ăn lành mạnh, khoa học, giàu chất xơ và tăng cường vận động cho trẻ. Với trẻ bị đái tháo đường type 1, nhìn chung vẫn có chế độ ăn như bình thường, chỉ cần hạn chế (không phải là cấm tuyệt đối) cho trẻ ăn đồ ngọt, hạn chế tinh bột và hạn chế dùng mỡ động vật. Còn với trẻ bị đái tháo đường type 2 thì năng lượng, tinh bột trẻ ăn hàng ngày cần được tính toán chặt chẽ hơn. Bố mẹ nên cho trẻ bị đái tháo đường ăn thành nhiều bữa trong ngày vì ăn quá nhiều trong một bữa sẽ làm cho đường huyết tăng cao. Đồng thời, nên thường xuyên kiểm tra nồng độ đường trong máu của trẻ để có giải pháp thích hợp.
Bên cạnh đó, chế độ vận động luyện tập thể dục thể thao đóng một vai trò quan trọng. Trẻ giảm được cân cũng có nghĩa là đã giảm được lượng đường trong máu.
- Các thực phẩm không nên ăn: Đường ngọt, bánh kẹo, nước ngọt, kem, nước mía, các loại quả khô ướp đường như mứt, quả ngọt sấy khô như chuối, mít…
- Các thực phẩm nên hạn chế: Các quả chín quá ngọt như mít, na, chuối, nhãn, vải…; các đồ ăn chế biến sẵn như patê, xúc xích, lạp sườn, thịt hun khói…; các món ăn xào rán nhiều mỡ, bánh mỳ, mỳ tôm, cơm, các loại thịt nhiều mỡ, bơ, pho mát…
- Các thực phẩm nên ăn: Ngũ cốc nguyên hạt như ngô, khoai sọ…; các loại rau xanh như bắp cải, rau cần, rau bí, rau muống…; quả chín ít ngọt như dưa chuột, thanh long, bưởi, cam, táo ta, lê, mận…
Không cần kiêng đường
Tuy nhiên, trẻ đái tháo đường cũng không cần thiết phải kiêng đường hoàn toàn. Hiện nay, trên thị trường đã có những sản phẩm sử dụng những loại đường thay thế rất tốt cho người đái tháo đường. Đó là Isomalt với nguyên liệu được nhập khẩu từ Đức. Theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia, đây là chất ngọt tự nhiên và an toàn. Nó có chỉ số đường huyết thấp (GI=28) và sinh ít năng lượng (1g Isomalt cho 2Kcal). Loại đường này có thể dùng cho cả trẻ béo phì, phụ nữ mang thai. Ngoài ra, còn có một số loại đường ăn kiêng khác như: đường Acesulframe-K có các tên thương mại là Sunette, Sweet one, Sweet”n safe, đường Sucralose (tên thương mại là Splenda)… Các loại đường này ngoài việc sử dụng trực tiếp còn được các nhà sản xuất dùng để sản xuất các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của những người “hảo ngọt” nhưng phải kiêng đường (đường mía). Ví dụ các loại bánh, kẹo không đường của Bibica (sử dụng Isomalt).
Ngoài ra, do trẻ đái tháo đường buộc phải theo một chế độ ăn kiêng nghiêm ngặt nên trẻ có khả năng bị thiếu một số chất dinh dưỡng. Các bác sĩ nhi khoa khuyên rằng, với những trường hợp này, nên cho trẻ sử dụng các thực phẩm bổ sung có nhiều chất xơ và vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là những sản phẩm dành cho người thừa cân, béo phì.

_____________________________________________________________________
Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

26 tháng 2, 2011

Trẻ vị thành niên dễ bị trầm cảm, vì sao?

Trầm cảm là một bệnh lý thần kinh – tâm thần khá phổ biến. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi và do nhiều nguyên nhân gây ra. Đối với trẻ vị thành niên, lứa tuổi mà tâm sinh lý đang phát triển mạnh mẽ là những đối tượng rất dễ bị tác động của cảm xúc, môi trường, gia đình và xã hội.

Quan tâm đến những dấu hiệu khác thường ở trẻ

Buồn chán, tuyệt vọng, cảm thấy suy sụp là những đặc điểm tiêu biểu của trầm cảm. Người bệnh không quan tâm thích thú với những thú vui bình thường, mệt mỏi, suy nhược, cảm giác kiệt sức, mọi việc đều vượt quá sức mình. Có những cơn đau nhức như: đau đầu, đau bụng, đau vùng trước tim, đau cơ khớp… (mà không phải do bệnh cơ thể sinh ra). Người bệnh lãnh đạm với người thân, khóc lóc vô cớ, có cảm giác lo lắng, đôi khi có cơn hốt hoảng. Họ tự cho mình là kém cỏi, là kẻ thất bại, là gánh nặng cho gia đình, không còn hứng thú đến lớp, trốn tránh bạn bè và người thân, kết quả học tập sa sút.
Vào buổi sáng tình hình có vẻ tồi tệ hơn, sau khi thức dậy người bệnh không cảm thấy thoải mái dễ chịu mà cảm thấy âm u, nặng nề. Người bệnh có thể chán ăn hoặc ăn nhiều, mất ngủ hoặc khó ngủ, hay thức dậy sớm hoặc ngủ nhiều. Người bệnh có thể sút cân, cũng có thể tăng cân. Ở mức độ trầm cảm nặng, người bệnh luôn bị ám ảnh bởi cái chết (có người rất sợ chết) và họ luôn nghĩ cách để tự sát. Khi bị bệnh nặng ý nghĩ tự sát rất mãnh liệt, nhưng hành vi tự sát ít xảy ra vì hoạt động của họ chậm chạp, khả năng thực hiện kế hoạch tự sát thấp. Vì vậy, một số trường hợp lại xảy ra tự sát khi bệnh có vẻ bắt đầu thuyên giảm do đó chúng ta cần lưu ý quản lý bệnh nhân trong quá trình điều trị.


Các loại trầm cảm hay gặp ở trẻ vị thành niên

Rối loạn trầm cảm thực vật: các rối loạn thực vật rất nổi bật, có khi át cả rối loạn khí sắc, rối loạn cảm xúc. Các cơn rối loạn thực vật đa dạng như cơn vã mồ hôi, cơn đánh trống ngực, cơn đau trước tim hoặc đau không xác định được vị trí, mạch nhanh, khô miệng, táo bón.
Rối loạn trầm cảm nghi bệnh: người bệnh có cảm giác nặng nề vì nghĩ mình bị bệnh cơ thể dễ nhầm với bệnh cơ thể thực sự.
Trầm cảm ẩn hay trầm cảm che đậy: các triệu chứng cơ thể chiếm ưu thế che lấp các triệu chứng trầm cảm. Biểu hiện chính là đau, thường gặp ở ống tiêu hóa, tim, xương, cơ, khớp, tiết niệu, sinh dục… Đau không biệt định cho cơ quan nào và không đáp ứng điều trị cho bệnh cơ thể. Bệnh nhân thường tìm gặp bác sĩ đa khoa, họ không thừa nhận mình bị trầm cảm và đòi hỏi được làm các xét nghiệm và được điều trị bằng các thuốc khác nhau.
Trầm cảm Paranoid: Ngoài triệu chứng trầm cảm, người bệnh còn có các triệu chứng hoang tưởng ảo giác, chúng mất đi khi hết trầm cảm. Nếu hết trầm cảm mà vẫn còn hoang tưởng, ảo giác thì phải nghĩ đến bệnh khác.
Trầm cảm nội sinh, do cơ thể sinh ra giống như một số bệnh nội khoa khác. Có thể trầm cảm đơn cực hay trầm cảm trong rối loạn lưỡng cực.
Trầm cảm theo mùa: ở một số người bị ảnh hưởng sâu sắc bởi sự âm u của mùa đông dẫn đến bị rối loạn cảm xúc theo mùa. Các triệu chứng thường gặp: buồn rầu, mệt mỏi, thiếu tập trung và giảm trí nhớ, thèm ăn đặc biệt là chất ngọt, tăng cân và thèm được ngủ nhiều hơn vào mùa hè.
Trầm cảm phản ứng hay trầm cảm bị kích ứng bởi những yếu tố bên ngoài, như bị phản bội tình yêu, lý tưởng, người thân qua đời, áp lực công việc, học hành, thi cử.

Nguyên nhân trầm cảm của trẻ vị thành niên

Lý do hay gặp là áp lực của học tập như kết quả thi kém, không thi đậu được vào trường như mong muốn, hoàn cảnh gia đình khó khăn… Đa số trẻ muốn thoát khỏi sự bảo hộ của bố mẹ, muốn độc lập nhưng lại mâu thuẫn với khả năng có hạn của mình. Sự quan tâm của bố mẹ bị giảm sút cũng làm trẻ thêm hoang mang. Một số yếu tố ảnh hưởng:
  • Tổn thất tình cảm như người thân qua đời, quan hệ bố mẹ căng thẳng, li thân, li hôn, hay bố mẹ mắc trầm cảm, gia đình ít tham gia hoạt động xã hội.
  • Lòng tự trọng bị tổn thương: kết quả học không tốt, tướng mạo không như ý, bị miệt thị hoặc bị bỏ rơi.
  • Tính cách cô độc, hướng nội, xa lánh mọi người hoặc yêu quá sớm dễ dẫn tới trầm cảm nghiêm trọng, tự sát hoặc giết người.
  • Tính công kích: một trẻ vị thành niên mất đi sự tự tin hoặc bị dày vò về tâm hồn sẽ thể hiện tính công kích nhưng không thể hiện được. Khi đó trẻ lại biến những xung đột đó thành trầm cảm, càng muốn công kích trầm cảm càng nặng.

Điều trị và phòng bệnh

Điều trị trầm cảm ở trẻ vị thành niên cần phối hợp thuốc (chống trầm cảm, an thần) với liệu pháp tâm lý và điều trị toàn diện. Cần phân biệt trầm cảm với bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, hay gặp ở người trẻ và cũng có thể có biểu hiện trầm cảm. Vì vậy khi thấy trẻ có biểu hiện trầm cảm, cần đưa trẻ đi khám ở các cơ sở chuyên khoa tâm thần để trẻ được tư vấn và điều trị có hiệu quả.
Cuộc sống ở lứa tuổi vị thành niên có thể ví như đồ thuỷ tinh, đẹp, trong suốt nhưng rất dễ vỡ. Do vậy để tránh cho con mình rơi vào những trạng thái tâm lý tiêu cực, các bậc cha mẹ cần quan tâm đến con trẻ, đặc biệt là về đời sống tinh thần, mối quan hệ bạn bè, chia sẻ với trẻ những khó khăn trong cuộc sống của chúng. Đặc biệt không nên quát mắng, xúc phạm khi trẻ có lỗi hoặc có kết quả học tập kém bạn bè.

__________________________________________________________________________
Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

25 tháng 2, 2011

Bệnh còi xương ở trẻ em

Trẻ bị còi xương là do cơ thể bị thiếu hụt vitamin D, làm ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ và chuyển hóa canxi và phốtpho (là những chất cần thiết cho sự phát triển của xương).
Bệnh thường gặp ở trẻ dưới 3 tuổi, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu ánh sáng mặt trời, do kiêng khem quá mức và chế độ ăn nghèo canxi-phốtpho. Những trẻ không được bú mẹ dễ bị còi xương hơn trẻ bú mẹ.
Những dấu hiệu chứng tỏ trẻ bị còi xương
  • Trẻ hay quấy khóc, ngủ không yên giấc, hay giật mình, ra nhiều mồ hôi khi ngủ.
  • Xuất hiện rụng tóc vùng sau gáy tạo thành hình vành khăn.Các biểu hiện ở xương: Thóp rộng, bờ thóp mềm, thóp lâu kín, có các bướu đỉnh, bướu trán (trán dô), đầu bẹp cá trê.
  • Các trường hợp còi xương nặng có di chứng: Chuỗi hạt sườn, nhô ức gà, vòng cổ chân, cổ tay, chân cong hình chữ X, chữ O.
  • Răng mọc chậm, trương lực cơ nhão, táo bón.
  • Chậm phát triển vận động: Chậm biết lẫy, biết bò, đi, đứng…
  • Trong trường hợp còi xương cấp tính: Trẻ có thể bị co giật do hạ canxi máu.
Những trẻ nào dễ có nguy cơ bị còi xương
  • Trẻ sinh non, sinh đôi; Trẻ nuôi bằng sữa bò; Trẻ quá bụ bẫm; Trẻ sinh vào mùa đông.
  • Các bà mẹ cần phân biệt: Bệnh còi xương và còi cọc.
  • Trẻ còi cọc: Trẻ bị suy dinh dưỡng, có số đo về cân nặng và chiều cao đều thấp hơn trẻ bình thường, cũng có thể kèm còi xương hoặc không. 
  • Bệnh còi xương: Có thể gặp ở cả những trẻ rất bụ bẫm, do nhu cầu về canxi, phốtpho cao hơn trẻ bình thường.

Cần phải làm gì khi trẻ bị còi xương
Cho trẻ tắm nắng hàng ngày: Để chân, tay, lưng, bụng trẻ lộ ra ngoài từ 10-15 phút lúc buổi sáng (trước 9 giờ). Về mùa đông không có ánh nắng cho trẻ đi tắm điện ở khoa lý liệu pháp các bệnh viện. Bởi vì dưới da có sẵn các tiền vitamin D là 7 dehydrocholesterol, dưới tác dụng của tia tử ngoại của ánh nắng mặt trời, các tiền vitamin sẽ bị hoạt hóa chuyển thành vitamin D. Vitamin D có tác dụng điều hòa chuyển hóa và hấp thu canxi, phốtpho. Ánh nắng mặt trời phải được chiếu trực tiếp trên da mới có tác dụng, nếu qua lần vải thì sẽ còn rất ít tác dụng.
Cho trẻ uống vitamin D 4000 Ul/ngày trong 4-8 tuần, trong trường hợp trẻ bị viêm phổi, tiêu chảy cần tăng liều 5.000-10.000 Ul/ngày trong 1 tháng, hoặc cho trẻ tiêm vitamin D 200.000 Ul/ống, 3 tháng tiêm nhắc lại một lần trong năm đầu tiên.
Cho trẻ uống thêm các chế phẩm có canxi như: Canxi B1-2-6 từ 1-2 ống/ngày, trẻ lớn có thể ăn cốm canxi 1-2 thìa cà phê/ngày.
Chế độ ăn uống: 
Cho trẻ bú mẹ.
Ăn bổ sung các loại thực phẩm có chứa nhiều canxi: Sữa, cua, tôm, cá trong các bữa ăn hàng ngày. Cần xóa bỏ quan niệm cho trẻ ăn xương ống, xương chân gà sẽ chống được còi xương.
Cho thêm dầu mỡ vào bữa ăn hàng ngày của trẻ: Vì vitamin D là loại tan trong dầu, nếu chế độ ăn thiếu dầu mỡ thì dù có được uống vitamin D trẻ cũng không hấp thu được nên vẫn bị còi xương.
Phương pháp phòng và chống bệnh còi xương ở trẻ em
Khi có thai, người mẹ phải có chế độ làm việc, nghỉ ngơi hợp lý. Để tránh bị sinh non, có thể uống vitamin D khi thai được 7 tháng: 200.000Ul.
Sau sinh, cả mẹ và con không nên ở trong phòng tối và kín, phòng ở thoáng mát và đầy đủ ánh sáng.
Sau khi sinh 2 tuần, cho trẻ ra tắm nắng 15-20 phút/ngày vào buổi sáng (trước 9 giờ).
Cho trẻ uống vitamin D 400Ul/ngày trong suốt năm đầu tiên nhất là về mùa đông.
Khi trẻ ăn bổ sung: Cho trẻ ăn các loại thực phẩm có chứa nhiều canxi như: Sữa, trứng, tôm, cua, cá, rau xanh và dầu mỡ.

______________________________________________________________
Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

24 tháng 2, 2011

Bệnh Gan Trẻ Em

Đặc điểm chính
- Bệnh gan mắc phải thường gặp ở người lớn hơn là trẻ em. Các bệnh gan phát hiện ở trẻ em thường do các bệnh bẩm sinh hoặc rối loạn chuyển hóa.
- Có sự chưa hoàn thiện về sinh lý của gan trong thời gian chu sinh và những thay đổi quan trọng của quá trình chuyển hóa của gan trong thời gian thơ ấu. Chính những thay đổi này ảnh hưởng s ự tiếp xúc cũng như phản ứng lại khi cơ thể trẻ tiếp xúc với chất độc hay virus.
- Bệnh gan có thể biểu hiện như :tăng bilirubin máu, gan to, suy tế bào gan, xơ gan, nang gan, tăng áp lực tỉnh mạch cửa, hoặc bệnh toàn thân do ảnh hưởng thứ phát của bệnh gan.
- Những ảnh hưởng thứ phát của bệnh gan có thể đe dọa cuộc sống:
- Rối loạn chuyển hóa như hạ đường huyết
- Rối loạn đông máu thứ phát do nồng độ các yếu tố phụ thuộc vitamin K thấp, kết quả là xuất huyết nội sọ ở trẻ nhi.
- Tiếp xúc "độc tố" kéo dài có thể gặp trong cac bệnh: galactosemia hoặc fructosemia
- Nhiễm trùng là nguyên nhân của bệnh gan hay là hậu quả thứ phát của suy giảm miễn dịch do suy dinh dưỡng.
- Tăng áp lực tỉnh mạch cửa với biểu hiện xuất huyết dạ dày ruột trầm trọng.
I.Sinh lý bệnh về sự phát triển chứa hòan thiện của gan trẻ em.
1. Thay đổi quá trình chuyển hóa và thanh lọc các độc tố nội sinh, ngoại sinh , các phức hợp độc tố:
a.Nồng độ cytochrome P-450 ở gan bệnh nhi thấp. Tương tự, các hoạt động của aminopyrineN-demethylase và aniline p-hydrosylase thấp. Các quá trình chuyển hóa ở gan như là thanh lọc một số thuốc hoặc bilirubin phụ thuộc vào hệ thống các chất vùa nêu, sẽ trở nên không hiệu quả. Vì thế nồng độ các chất độc tố trong huyết tương sẽ tăng nhanh hơn ở bệnh nhi.
b. Sự thanh lọc các thuốc phụ thuộc vào cytochrome P-450 thường nhanh hơn ở trẻ lớn hơn là người trưởng thành. Khi đến tuổi dậy thì, một phần chuyển hóa của người lớn sẽ bắt đầu hình thành.
c. Nồng đô các chất glutathione peroxidase và glutathion S-transferase thường thấp ở trẻ nhỏ, làm cho gan trẻ nhỏ dễ tiếp xúc với các thương tổn oxyhóa
2.Kích thước hồ chứa acid mật và thành phần có thể thay đổi.
Người ta chưa rõ là điều này có lợi hay là có hại.
3. Vàng da sinh lý:
gần đến 1 phần 3 các trẻ sơ sinh có vàng da trong vòng tuần đầu sau sinh. Những trẻ được nuôi bằng sữa mẹ có nguy cơ cao vàng da hơn là trẻ được nuôi bằng sửa hộp. Tình trạng này được xem là vàng da sinh lý và thông thường tự khỏi không có biến chứng. Vàng da sinh lý phản ánh sự hoán chuyển từ mẹ sang con quà trình thanh lọc và chuyển hóa Bilirubin gián tiếp. Đây là một quá trình bệnh sinh do nhiều yếu tố:
gia tăngsinh sản bilirubin, Trẻ sơ sinh có tế bào hồng cầu khổng lồ và các tế bào này thì có đời sống thấp hơn hồng cầu ở người lớn.
Protein huyết thanh không đủ để gắn kết bilirubin, điều này ảnh hưởng sự tiếp nhận bilirubin của tế bào gan.
4. Những dấu hiệu cảnh giác vàng da bệnh lý:
  • Bilirubin tăng cao trước 3 ngày hoặc kéo dài hơn 14 ngày kể từ lúc sinh ra.
  • Tổng bilirubin huyết thanh > 15mg/dl
  • Bilirubin trực tiếp > 2mg/dl
II.Tăng bilirubin máu
Sự thay đổi xảy ra trong bất kỳ bước nào của quá trình chuyển hóa có thể gây vàng da vượt quá ngưỡng vàng da sinh lý. Các thay đổi quan trọng trong các bước của quá trình chuyển hóa bIlirubin:
1. Tăng sản xuất Bilirubin: Dẫn đến sự gia tăng phóng thích thể Heme từ hồng huyết cầu
a. Tan máu do các nguyên nhân: bất tương hợp hệ Rhesus, hệ ABO, hay các nhóm máu nhỏ khác.
b. Hồng cầu dễ vỡ trong bệnh sphrocytosis bẩm sinh, elliptocytosis di truyền, polycythemia, hoặc khiếm khuyết men hồng cầu G6PD; Pyruvate kinase, PK; hexokinase, HK
c. Bệnh u máu đi kèm
2. Giảm tiếp nhận bilirubin tại tế bào gan:
  • Có thể do thiểu năng tuyến giáp hoặc thiểu năng hormon giới tính, gây ức chế hấp thu bilirubin qua màng tế bào gan. Thyroxin đóng vai trò rất quan trọng đối với chức năng màng plasma tế bào gan.
  • Giảm lượng bilirubin gắn kết với protein huyết tương cũng gây nên giảm lượng bilirubin gắn kết với tế bào gan. Điều này có thể do giảm albumin máu, giảm protein máu , hoặc do sự chiếm giữ các protein này bởi các thuốc như sulfonamids, salicylates, heparin, và caffein.
3. Bất thường gắn kết nội bào hay dự trữ Bilirubin trong tế bào gan:
Những bất thường này thường hiếm gặp và bao gồm khiếm khuyết hay thay đổi men Glutathion S-transfease (GST).
  • Hội chứng Roto: biểu hiện bằng giảm khản năng dự trữ Bilirubin nội bào, tăng bilirubin máu thể trực tiếp và gián tiếp mà khôn hề có tiêu huyết, không có thay đổi men gan, tế bào học bình thường.
  • Có gia tăng thể coproporphirin trong nước tiểu, đặc biệt type 3, thứ phát sau rối loạn chức năng mật.
  • Khôn có chỉ định điều trị vì không có tử vong hay biến chứng đi kèm
4. Sự kết hợp bilirubin không hữu hiệu trong tế bào gan.
Bên trong tế bào gan, bilirubin được kết hợp với acid glucuronic bởi men bilirubin UDP-glucuronyl transferase ( BGT) để hình thành bilirubin mono- hay diglucuronide
·         giảm hoạt động men BGT được ghi nhận trong hội chứng Gilbert, kết quả là có sự gia tăng lành tính bilirubin huyết tương, đặc biệt trong các trường hợp stresses như bệnh nhiễm virus.
·         Hội chứng Crigler-Najjar, định vị bởi nhiễm sắc thể 2q37, đặc trưng bởi thiếu men BGT dẫn đến tăng bilirubin huyết trầm trọng kèm với những ảnh hưởng thần kinh.
  • Các bệnh khác: neonatal hemochromatosis, thiếu alpha-1 antitrypsin, bệnh Wolman, Niemann-Pick..có thể gây tăng bilirubin máu trong thời gian sơ sinh.
5. Những thay đổi trong quá trình bài tiết Bilirubin qua màng canalicular vào ống mật:
Thường các bệnh biểu hiện lành tính, không cần điều trị.
6. Bất thường cấu trúc của hệ thống ống dẫn mật
Có thể ngăn cản sự dẫn lưu mật từ canaliculus vào ruột non, gây nên tình trạng tích tụ mật và trào ngược bilirubin vào hệ tuần hoàn:
a. Teo ống mật ngoài gan (BA)
là một bệnh tiến triển đặc trưng bởi quá trình viêm và xơ của ống mật ngoài gan, dẫn đến phá huỷ hoàn toàn các ống mật ngoài gan.
  • Bệnh BA tiêu biểu xảy ra từ tuần tuổi thứ 2 đến thứ 6 như là bệnh tăng bilirubin máu kết hợp
  • Sinh thiết gan thấy xơ và tăng sinh ống mật
  • BA có thể phát hiện theo hội chứng ( <15% cases) kèm với bất thường tim mạch, đa lách, đảo ngược phủ tạng, hoặc không kèm hội chứng ( thường gặp hơn), nguyên nhân chưa biết.
  • Bất thường này thường được điều trị khởi đầu bằng cách thông Cửa- Ruột, cho phép dẫn lưu mật trực tiếp từ gan vào ruột non, giúp kéo dài sự tiến triển của bệnh.
  • Bệnh gan giai đoạn cuối thứ phát dẫn đến BA là nguyên nhân thường gặp nhất cho chỉ định ghép gan ở trẻ em.
b. Ứ mật ở các ống dẫn mật trong gan
c. Nang ống dẫn mật: dãn ống dẫn mật tạo thành nang , có thể chỉ có ở ngoài gan hoặc đi kèm trong gan.
Nguyên nhân chưa được biết,
  • Thường xuất hiện ở Đông Nam Á, với >50% trường hợp được báo cáo từ Nhật Bản.
  • Hầu hết bệnh nhân là bệnh nhi với biểu hịện đau vùng bụng, vàng da kèm hoặc không kèm sờ thấy khối u vùng bụng.
  • Chẩn đoán có thể bằng: siêu âm, CT Scan, nội soi ngược dòng tuỵ mật (ERCP)
  • Điều trị bằng phương pháp rạch phẫu thuật phần ống mật bị dãn hơn là phương pháp bắc cầu, dẫn lưu do tỷ lệ gia tăng bệnh ác tính của nội mô túi mật. 

    7. Những thay đổi ở tuần hoàn gan ruột có thể gây nên tình trạng tái hấp thu bilirubin ở ruột non.
    Điều này có thể do có tắc nghẽn như trong bệnh teo sản ruột non hoặc bệnh Hirschprung, hay những thay đổi dòng khuẩn thường trú ruột non do sử dụng kháng sinh.
    8. Những biến chứng của tăng bilirubin huyết:
    a. Tăng bilirubin huyết chưa kết hợp:
    ·         Kerniterus ( bệnh não bilirubin) do gia tăng bilirubin chưa kết hợp. Đối tượng bị bệnh là trẻ sơ sinh và các bn hội chứng Crigler-Najjar typeI
    ·         Nồng độ bilirubin chưa kết hợp > 30mg/dl đi kèm với bệnh lý não. Hiếm gặp khi nồng độ < 20mg/dl
    ·         Những yếu tố làm gia tăng nguy cơ kernicterus bao gồm giảm albumin máu và thay thế bilirubin bởi các thuốc, các anions hữu cơ khi gắn kết với albumin. Cả hai tình trạng trên đều làm gia tăng nồnh độ bilirubin chưa gắn kết trong máu.
    b. Bệnh ứ mật:
    ·         Suy dinh dưỡng thứ phát dẫn đến kém hấp thu chất mỡ, dẫn đến thiếu vitamin hòa tan trong mỡ
    ·         Ngứa
    ·         Xanthomatosis thứ phát sau những thay đổi chuyển hóa cholesterol
    9. Điều trị:
    a. Tăng bilirubin huyết chưa kết hợp
    ·         Truyền dịch thay thề tích gấp đôi: làm giảm nguy cơ kernicterus ở trẻ sơ sinh bằng cách nhanh chóng giảm nồng độ bilirubin huyết tương
    ·         Chiếu anh sáng giúp bài tiết bilirubin qua nước tiểu
    • Làm nhanh quá trình chuyển hóa bilirubin bằng cách cho phenobarbital.
    b. Bệnh ứ mật:
    ·         Phẫu thuật chỉnh hình giải phẫu học có thể hiệu quả
    ·         Ursodeoxycholic acid, acid làm tan mật
    ·         Ghép gan có thể cần thiết 


    III.Bệnh gan phì đại ( gan to)
    Bệnh gan to có thể có nhiều yếu tố bệnh sinh bao gồm phì đại tế bào, sung huyết tỉnh mạch , ngấm mỡ, hoặc là tích tụ những chất không thường trú ở gan.
    Các nguyên nhân gây gan to:
    • Phì đại tế bào/ tăng sinh tế bào:
    • tế bào gan
    • tế bào Kuffer
    • tế bào viêm nhiễm
    • Xơ hóa
    • Sung huyết tỉnh mạch
    • Dãn đường mật
    • Tích tụ các chất của quá trình chuyển hóa:
    • mỡ
    • Cholesterol
    • Glycogen
    • Sphingolipid
    • Spingomyelin
    • Alpha-1 antitrypsin bất thường
    • Copper
    • thẩm nhiễm tế bào u bướu
    IV.Thấm nhiễm tế bào viêm và tăng sinh tế bào Kuffer
    Viêm gan do virus có thể hiên diện với gan to nhẹ thứ phát do viêm nhiễm. Viêm gan do bệnh tự miễn có thể có thấm nhiễm tế bào viêm trầm trọng và có biểu hiện gan to khi thăm khám. Thấp khớp dạng thấp Juvenile cũng có thấm nhiễm tế bào viêm và tăng sinh tế bào Kuffer, hậu quả là gan to. Hai bệnh cảnh sau cùng thường được giải quyết khi tiến trình bệnh chính được giải quyết bằng thuốc kháng viêm
    V.Xơ hoá
    Bệnh xơ gan bẩm sinh có thể biểu hiện với gan to và lách to thứ phát do tăng áp lực tỉnh mạch cửa.
    VI.Sung huyết tỉnh mạch
    Bất kỳ tình trạng giảm chức năng tim nào đều có thể gây sung huyết thụ động ở gan và biểu hiện bằng gan to
    VII.Tích tụ các chất của quá trình chuyển hóa:
    1. Tích tụ mỡ gây gan to thường gặp trong nhiều bệnh, thông thường nhất là Béo phì, Suy dinh dưỡng và Đái tháo nhạt.
    a. Đái tháo nhạt (Diabete mellitus- DM): có thể gây gan to do tình trạng Isulin kém kiểm soát
    b. Khiếm khuyết oxyhóa các acid béo: thiếu men dehydrogenase acyl-CoA chuỗi trung bình ( MCAD) và chuỗi dài (LCAD) hiện diện với gan to, hạ đường huyết, tăng men gan. Những khiếm khuyết này làm mất khả năng sử dụng mỡ, làm mỡ tích tụ ở gan.
    c. Nhiễm Galactose máu: do thiếu men galactose-phosphate uridyltransferase thường xảy ra trong vài ngày đầu sau sinh. Sự thiếu hụt này dẫn đến tích tụ galactose L-phosphate và galactiol dẫn đến gan nhiễm mỡ.
    Nếu không điều trị trẻ sẽ đi vào suy gan. Điều trị bằng cách loại bỏ lactose khỏi chế độ ăn.
    d. khiếm khuyết phosphorylation oxidative, hội chứng Alper, hậu quả là nhiễm toan chuyển hóa nặng. Sự khiếm khuyết này biểu hiện bằng tỉ lệ lactate/pyruvate tăng cao và gia tăng 3-hydroxybutyrate. NHững rối loạn này thường hiện diện với bệnh thần kinh, bệnh cơ kèm/hoặc không kèm động kinh, suy gan tiến triển.
    e. Hội chứng Reye: biểu hiện bằng gan to nhanh thứ phát do tích tụ triglyceride và tăng sản the smooth endoplasmic reticulum. Bệnh thường kết hợp bởi bệnh nhiễm virus đi trước rất như nhiễm trùng đường hô hấp trên hay thuỷ đậu, và thường đi có sử dụng aspirin. Triệu chứng bao gồm: ói mửa, mất định hướng, gan to nhiều mức độ. Chữa trị thường là nâng đỡ tổng trạng.
    2. Tích tụ Cholesterol trong bệnh dự trữ ester cholesterol (CESD) và bệnh Wolman:
    • CESD không có triệu chứng
    • Bệnh Wolman: đặc trưng bởi giảm men lysosomal acid lipase, hậu quả là giảm phân đoạn cholesterol. Suy dinh dưỡng thứ phát thường đi kèm do tích luỹ lipid ở lớp biểu mô ruột non. Thoái hóa Thần kinh và tử vong xảy ra từ 6-12 tháng tuổi. Điều trị được đề nghị là cấy ghép tuỷ.
    3. Bệnh dự trữ Glycogen ( GSD) type I và type IV hiện diện với gan to thứ phát do tích trữ glycogen ở tế bào gan.
    • GSD type I: có sự vắng mặt hoặc bất thường của men G6P. Vì thế quá trình sinh tổng hợp glucose không được tiến triển. Bệnh nhân bị giảm đườnh huyết ngay sau một thời gian ngắn với nhiễm acid lactic, tăng uric máu, giảm phosphat máu và tăng lipid máu. Điều trị bao gồm chế độ kiêng ăn tinh bột. Bệnh nhân thường có nguy cơ cao ng thư gan.
    • GSD IV là bệnh hiếm gặp, biểu hiện ở trẻ nhỏ với gan to lách to, chậm tăng cân.Điều trị thường là ghép gan.
    4. Tích tụ Sphingolipid là đặc điểm của bệnh Gaucher, bệnh do thiếu men glucocerebrosidase, men lysosomal chịu trách nhiệm phân đoạn sphingolipid.
    Có ba thể:
    - Type I điển hình biểu hiện với gan to lách to, là một thể không bệnh sinh TK mãn tính
    - Type II cũng biểu hiện với gan to lách to nhưng có những dấu hiệu TK và thường tử vong lúc 2 tuổi
    - Type III thường đi kèm gan to lách to với biểu hiện trễ các dấu hiệu TK
    5. Bệnh Niemann-Pick
    Gây ra bởi nguyên nhân giảm men sphingomyelinase, hậu quả là gây tích tụ sphingomyelin và cholesterol trong hệ võng nội mô của nhiều cơ quan bao gồm gan.
    6. Thiếu antitrypsin alpha-1 biể hiện với gan to lách to do có sự tích tụ những phân tử antitrypsin alpha-1 bất thường dọc theo the endoplasmic reticulum.
    Bệnh này thường được điều trị bằng ghép gan .
    7. Bệnh dự trữ Đồng:
    a. Bệnh Wilson là một bệnh di truyền, quá tải đồng; gene bất thường nằm trên NST thứ 13
    ·         Cơ chế sinh bệnh cụ thể chưa được biết rõ, sự bài tiết chất đồng giảm gây nên sự tích tụ quá mức trong gan và hậu quả tiếp là sự tích tụ ở hệ thần kinh trung ương và các cơ quan khác
    ·         Bệnh gan xuất hiện trong khoảng thâp niên thứ hai đến thứ tư của đời sống. Giai đoạn trễ có khuynh hướng xuất hiện triệu chứng thần kinh hay tâm thần
    ·         Bệnh Wilson được chẩn đoán bởi ceruloplasmin<20mg/dl, liver copper>250microgam/g và đồng /nước tiểu>100 microgam/ngày
    ·         Sinh thiết gan thấy steatosis, xơ gan, fibrosis.
    ·         Bệnh có nguy cơ tử vong do suy gan không điều trị nhưng có thể kiểm soát bằng phương pháp tách bỏ đồng. Penicillamine và trientine là những chất giúp gia tăng tách bỏ Cu qua nước tiểu. Kẽm có thể ngăn cản hấp thụ Cu ở ruột non, cũng được sử dụng để loại bỏ Cu.
    b. Bệnh xơ gan nhi An Độ là một bệnh dự trữ đồng ở trẻ nhỏ.
    Xuất hiện sớm hơn bệnh Wilson với suy gan nhanh chóng dẫn đến tử vong trong vòng vài tuần đến vài tháng. Bệnh thường tử vong lúc 4 tuổi.
    VIII.Thấm nhiễm tế bào u
    *Những loại u bướu tiên phát như: embryonal rhabdomyosarcoma của đường mật, teratomas, hepatoblastoma và hemagioendothelioma.
    *U bứu thứ phát bao gồm: neuroblastoma, bứu Wilm và lymphoma
    ·         Chẩn đoán bằng sinh thiết
    ·         Điều trị tuỳ thuộc vào thể loại u
    IX.Bệnh gan cấp tính
    Bệnh gan cấp tính như bệnh viêm gan do virus, hội chứng Reye, có biểu hiện khởi bệnh đột ngột
    1. Viêm gan do virus
    Nguyên nhân thông thường nhất của viêm gan do virus là virus A và B. Cả hai đều biểu hiện như một tình trạng cảm sốt kèm vàng da, gan to, tiến trình bệnh thì khác nhau.
    Viêm gan A được lây truyền qua đường tiêu hóa: miệng-phân, nguêyn nhân bùng phát bệnh do tình trạng kém vệ sinh
    • Thường không có triệu chứng 75-95% ở trẻ em , trong khi người lớn thường có triệu chứng hơn ( 75-95%) và một số ít tiến triển thành bệnh gan nặng.
    • Tiêm vaccin viêm gan A cho trẻ em và người lớn nguy cơ cao có thể hạn chế được tần suất viêm gan A
    Viêm gan B được lây truyền qua đường chu sinh. Trẻ em biểu hiện bệnh gần giống người lớn
    • hiếm xảy ra có kèm bệnh ngoài gan liên quan miễn dịch
    • Trẻ sơ sinh có mẹ HBsAg + thường có nguy cơ cao trơ thành nguồn mang bệnh mãn tính, phát triển thành ung thư gan.
    • Chích Globulin miễn dịch viêm gan B trong vòng 4-6h sau sinh và sau khi chích vaccin viêm gan B có thể phònh ngừa được bệnh này.
    2. Hội chứng Reye:
    *Điển hình là biểu hiện theo sau tình trạng sốt của bệnh tiền triệu như nhiễm trùng đường hô hấp trên, hoặc nhiễm varicella và thường đi kèm có điều trị Aspirin.
    • Sau 5-7 ngày khởi bệnh có ho trào ngược, thuờng khi bệnh đầu tiên bắt đầu thuyên giảm. Tiến triển bệnh có suy gan kèm biến chứng thoái hóa thần kinh như động kinh, hôn mê có thể xảy ra nhanh chóng.
    • Men gan tăng cao gấp 3-4 lần bình thường. Biểu hiện tăng time Prothrombin hay tăng amonia có thể tiên đoán tiến triển suy gan.
    • Điều trị chủ yếu là nâng đỡ và kiểm soát tăng áp lực nội sọ.
    3. Cystic Liver disease :
    Bệnh nang gan
    X.Bệnh toàn thân ảnh hưởng đến gan
    1. Bệnh xơ nang gan
    2. Bệnh tế bào Sickle
    3. Béo phì: Béo phì ở trẻ em cũng như người lớn có thể dẫn đến gan to. Bệnh có thể kèm nhiễm mỡ, viêm nhẹ, tăng sinh tế bào Kuffer. Điều trị chủ yếu là giảm cân và kiểm soát glycemie, lipidemia
    4. Dinh dưỡng toàn thân
    5. Hội chứng mô tế bào ở trẻ em
    6. Loạn dưỡng cơ: thường biểu hiện AST tăng cao, với nguồn gốc xác định là AST từ cơ.
    7. Khiếm khuyết về chuyển hóa gluco lúc mới sinh 

    ____________________________________________________________________
    Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

    Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

    Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

    LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
    Đọc tiếp →

    23 tháng 2, 2011

    Mùa xuân, cần cảnh giác bệnh viêm màng não ở trẻ em

    Khi thời tiết chuyển sang mùa xuân cũng là cơ hội cho nhiều bệnh truyền nhiễm phát triển trong đó có hội chứng viêm màng não, bao gồm cả viêm màng não do não mô cầu và viêm màng não mủ (Hib).


    Những dấu hiệu bệnh ở trẻ em
    Theo những điều tra dịch bệnh hằng năm của Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương thì các ca bệnh viêm màng não do não mô cầu và do Hib thường có dấu hiệu tăng lên vào mùa xuân. Đối tượng mắc chủ yếu là trẻ em. Có những trường hợp đến nhập viện đã rất nguy kịch do gia đình thấy những biểu hiện thông thường như cảm cúm nên chủ quan không đưa trẻ đi khám và điều trị kịp thời.
    Viêm màng não mô cầu (VMNMC) xuất hiện ở tất cả các vùng miền ở nước ta, chủ yếu là miền Bắc, nhất là vào mùa đông xuân và cuối thu đầu đông, do thời tiết lạnh ẩm, đi cùng với mùa của những bệnh truyền nhiễm khác do vi khuẩn và virut. Ở miền Nam, bệnh ít gặp hơn, số mắc bệnh thường tăng lên vào khoảng tháng 5 tới tháng 7. Bệnh thường gặp ở trẻ em và những người trẻ tuổi sống tập trung ở ký túc xá, trường học hay những khu đông dân cư có đời sống kém vệ sinh.
    Bệnh có tỉ lệ tử vong khá cao nếu không được phát hiện sớm và điều trị đúng. Bệnh lây theo đường hô hấp, trong khả năng ít hơn có thể lây nhiễm qua tiếp xúc với bàn tay, vật dụng cá nhân bị nhiễm vi khuẩn từ bệnh phẩm của bệnh nhân. Sau khi khỏi bệnh, người bệnh có miễn dịch với vi khuẩn màng não cầu đồng týp huyết thanh, tuy nhiên thời gian miễn dịch không dài, có thể 2 - 3 năm, người đó vẫn có thể tái nhiễm hoặc nhiễm một týp vi khuẩn khác. Sau khi xâm nhập vào tế bào đường hô hấp trên, gây ra tình trạng viêm mũi họng, người bệnh ho, sốt cao, đau cơ, đau đầu, buồn nôn, có thể bị co giật, giảm trương lực cơ, có biểu hiện của liệt chi, mặt, tri giác giảm... Từ đường hô hấp trên vi khuẩn tiếp tục xâm nhập vào máu qua hệ bạch huyết, vào khoang não tuỷ hoặc một số cơ quan khác như khớp, màng tim... gây viêm, đau ở các cơ quan này. Tùy vị trí xâm nhập, độc lực của vi khuẩn cũng như sức đề kháng của cơ thể mà dẫn đến viêm mũi họng nhẹ tới nhiễm khuẩn huyết đơn thuần hoặc kịch phát gây tử vong. Tỷ lệ tử vong của VMNMC từ 5 - 10% số mắc, để lại nhiều di chứng nặng nề về thần kinh, thẩm mỹ.


    Đối với bệnh viêm màng não mủ (Hib) thường gặp ở trẻ từ 2 - 5 tuổi. Bệnh thường xảy ra ở thể bán cấp hoặc có thể đột ngột với các triệu chứng chủ yếu như sốt trên 38oC, nôn, ngủ lịm, thóp phồng ở trẻ nhỏ hoặc cứng gáy ở trẻ lớn hơn, trẻ có thể bị kích thích vật vã, co giật từng cơn. Tỷ lệ tử vong của Hib là từ 3 - 8% ở các nước phát triển, còn ở những nước nghèo có thể lên tới 40%. Hib lây qua đường hô hấp, vi khuẩn xâm nhập qua mũi họng. Nguồn lây bệnh chính là người bệnh và người lành mang bệnh, tỷ lệ người lành mang vi khuẩn là 80% ở trẻ em và 20% ở người lớn. Hib có thể xuất hiện quanh năm song tỷ lệ mắc cao nhất vào mùa đông xuân, đặc biệt là thời tiết ẩm ướt.
    Phát hiện sớm sẽ cho kết quả điều trị tốt
    Hai căn bệnh này đều đáp ứng tốt điều trị bằng kháng sinh mạnh, tuy nhiên nếu phát hiện bệnh quá muộn thì tỷ lệ tử vong sẽ cao hoặc để lại nhiều di chứng về phát triển thần kinh như bị liệt toàn thân, bại não, méo tiếng, chân tay khoèo, có những trẻ vẫn phát triển trí tuệ được nhưng do hình dạng bất thường nên sẽ chịu nhiều thiệt thòi khi lớn lên và hạn chế sự hoà nhập cộng đồng.
    Những hy vọng từ vaccin: Các biện pháp phòng bệnh quan trọng vẫn là giữ vệ sinh thân thể và mũi họng sạch sẽ, giữ vệ sinh môi trường thường xuyên thông thoáng, nhiều ánh sáng, cần duy trì vệ sinh răng miệng, hầu, họng. Khi bị viêm đường hô hấp trên có biểu hiện bệnh cần đưa bệnh nhân đến ngay các cơ sở y tế.
    Hiện nay đã có vaccin phòng VMNMC týp A và C, nhưng thời gian bảo vệ thấp ( 2 - 3 năm) và giá thành cao nên các chuyên gia dịch tễ chỉ khuyến cáo dùng cho những người đang sống trong vùng đang có nguy cơ dịch bệnh. Còn đối với vaccin phòng Hib đã có mặt ở nước ta nhiều năm qua, song cả hai vaccin phòng bệnh này đều chưa được miễn phí trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng, và giá thành còn cao so với thu nhập của nhiều gia đình (khoảng 500.000đ cho 2 mũi vaccin Hib), vaccin này chỉ định cho trẻ từ 2 tháng tuổi và mũi 2 cách mũi 1 là 2 tháng. Việt Nam cũng chưa tự sản xuất được vaccin này, do đó cơ hội được tiếp cận là rất ít với những gia đình nghèo. Tin vui cho những trẻ em là dự kiến đến tháng 7/2009, sẽ có vaccin 5 trong 1 dùng miễn phí trong Tiêm chủng mở rộng, vaccin Hib là một trong số đó.

    ___________________________________________________________________
    Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

    Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

    Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

    LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
    Đọc tiếp →

    22 tháng 2, 2011

    Bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em

    Bệnh tim bẩm sinh (TBS) là các dị tật của buồng tim, van tim, vách tim va các mạch máu lớn, xảy ra từ lúc còn ở bào thai. Tần suất bệnh TBS chung trên thế giới là 8 trên 1000 trẻ ra đời còn sống.
    Phân loại bệnh TBS

    Môi trường sống tác động rất nhiều lên việc hình thành bệnh TBS. Bệnh TBS có thể là hậu quả của các yếu tố môi trường độc hại (tia phóng xạ, hóa chất, vi trùng, bệnh chuyển hóa…) ảnh hưởng lên người mẹ trong quá trình mang thai. Nguyên nhân gây bệnh TBS còn có thể bị tác động bởi yếu tố gia đình, di truyền, bất thường nhiễm sắc thể.

    Bệnh TBS được chia thành 2 nhóm: Không tím (trẻ không bị tím da niêm) và có tím (trẻ bị tím da niêm). Các bệnh TBS không tím thường gặp nhất là: thông liên thất (30,5%), thông liên nhĩ (9,8%), còn ống động mạch (9,7%)…

    Bệnh TBS có tím thường gặp nhất là: Tứ chứng Fallot (5,8%)… Một số bệnh TBS khác là: Hẹp van động mạch phổi, hẹp eo động mạch chủ, kênh nhĩ thất, thất phải hai đường ra, chuyển vị đại động mạch, bệnh Ebstein, không lỗ van ba lá, tâm thất độc nhất… Bệnh TBS nặng thường được chẩn đoán ngay khi trẻ sinh ra. Với trẻ bị dị tật tim nhẹ hơn, triệu chứng dần xuất hiện khi trẻ lớn lên. Bệnh diễn tiến có thể khiến trẻ gặp các triệu chứng như: hay mệt, ngất, chậm phát triển, suy dinh dưỡng, viêm phổi tái đi tái lại, suy tim, tử vong… Với các bệnh này, điều trị thuốc chỉ làm giảm triệu chứng chứ không sửa chữa được tổn thương.

    Hiện nay, ngành phẫu thuật tim rất phát triển, phần lớn các bệnh TBS được điều trị khỏi hẳn nhờ phẫu thuật. Một số bệnh lý TBS có tổn thương phức tạp, không thể điều trị hoàn toàn.

    Trẻ mắc bệnh TBS nếu được phát hiện sớm, điều trị đúng cách có thể giúp trẻ phát triển như những trẻ cùng trang lứa, hòa nhập tốt vào xã hội. Chăm sóc tốt cho những trẻ này cũng không phải là vấn đề đơn giản. Chính vì vậy, cha mẹ có vai trò rất lớn trong việc phối hợp với ngành Y tế để điều trị trẻ bị bệnh TBS.




    Nhận biết trẻ có bệnh TBS

    Trong một số trường hợp, trẻ mắc bệnh TBS nhưng không có biểu hiện gì do dị tật không nặng, chỉ tình cờ được phát hiện khi khám sức khỏe hoặc khám vì một lý do khác. Một số dị tật khác cũng hay đi kèm với bệnh TBS như: hội chứng Down, sứt môi - chẻ vòm, thiếu hoặc thừa ngón tay - ngón chân, tật đầu to, đầu nhỏ... Cần đưa trẻ đi khám bệnh ngay nếu phát hiện trẻ có những triệu chứng khác lạ sau:

    - Trẻ hay bị ho, khò khè tái đi tái lại, thở khác thường (thở nhanh, lồng ngực rút lõm khi hít vào), thường bị viêm phổi.

    - Trẻ có làn da xanh xao, lạnh, vã mồ hôi. Trẻ bị tím môi, đầu ngón tay, ngón chân, tăng lên khi khóc, khi rặn…

    - Trẻ bú hoặc ăn kém, chậm lên cân, thậm chí không tăng cân hay sụt cân. Trẻ chậm phát triển hơn so với trẻ bình thường (chậm mọc răng, chậm biết lật, bò…).

    Khi biết con mình mắc bệnh TBS, cha mẹ cần hỏi bác sĩ chuyên khoa tim mạch về tất cả những vấn đề quan tâm như: Đặc điểm tổn thương, diễn tiến của bệnh, cách thức điều trị, nếu có phẫu thuật thì thời điểm nào tốt nhất để phẫu thuật, cách chăm sóc trẻ tại nhà… để có thể hiểu về bệnh của trẻ nhằm xử trí đúng cách.

    Chăm sóc trẻ mắc bệnh TBS

    Mặc dù nhiều trẻ mắc bệnh TBS có thể sinh hoạt, học tập không khác những đứa trẻ khác nhưng chúng vẫn cần được chăm sóc kỹ lưỡng và đúng cách để có được sức khỏe tốt. Cha mẹ lưu ý:

    - Chăm sóc trẻ chu đáo, giữ trẻ ấm, vệ sinh sạch sẽ, cho trẻ ăn uống điều độ, đủ chất.

    - Không cho trẻ vận động mạnh hay chơi giỡn quá nhiều, tránh để trẻ gắng sức và làm những công việc nặng nhọc.

    - Trẻ cần giữ vệ sinh răng miệng tốt để tránh bị nhiễm trùng, cần uống kháng sinh khi được làm thủ thuật hoặc điều trị răng để phòng ngừa viêm nội tâm mạc nhiễm trùng.

    - Cho trẻ tái khám đúng theo lịch và tuân theo sự điều trị của bác sĩ, ngay cả khi trẻ đã được phẫu thuật, bởi vì một số bệnh TBS vẫn cần phải theo dõi sau phẫu thuật và khi lớn lên, trẻ có thể gặp một số vấn đề khác về sức khỏe.

    Mẹ cần ngừa bệnh TBS cho trẻ khi mang thai

    Bệnh TBS là những dị tật xảy ra ngay từ lúc trẻ còn ở thời kỳ bào thai, đặc biệt là 3 tháng đầu của thai kỳ. Muốn ngừa bệnh TBS, người mẹ cần quan tâm đến những vấn đề sức khỏe trước và trong khi có thai:

    - Cải thiện môi trường sống, tránh ô nhiễm.

    - Tránh các tác nhân vật lý, hóa học, chất độc, các loại thuốc an thần, nội tiết tố, rượu, thuốc lá…

    - Chủng ngừa hoặc tránh tiếp xúc với các nguồn bệnh do siêu vi gây ra như: rubela, quai bị, herpes, cytomegalovirus, coxsaskie B…

    - Nếu người mẹ có các bệnh lý chuyển hóa như: Đái tháo đường, lupus ban đỏ lan tỏa… thì cần được điều trị.

    - Khám và theo dõi thai định kỳ.

    ____________________________________________________________________________
    Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

    Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

    Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

    LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
    Đọc tiếp →

    21 tháng 2, 2011

    Bệnh trẻ em vào mùa mưa lạnh

    Viêm phế quản, cảm mạo, viêm amiđan, sốt xuất huyết... là những bệnh thường gặp ở trẻ khi thời tiết chuyển sang mùa mưa lạnh ẩm thấp. Cần giữ ấm và vệ sinh răng miệng cẩn thận cho các em để tránh nhiễm trùng.
    Các bệnh thường gặp:
    1. Cảm mạo: thường biểu hiện dưới dạng dị ứng mũi. Người bệnh hắt xì thành cơn dài liên tục, kèm theo chảy nhiều nước mũi trong và lỏng, không sốt. Có thể dùng một số thuốc chống dị ứng thông thường như Phenergan, Chlopheniramin, Theralen... trong vài ngày là hết.
    2. Viêm mũi: bệnh xuất hiện sau khi bị nhiễm lạnh, có triệu chứng ngứa lỗ mũi (trẻ hay dụi tay lên mũi) và chảy nước mũi nhiều, có thể sốt hoặc không. ở trẻ còn bú, khi bị viêm mũi thường gây khó chịu, ngủ không yên giấc, nghẹt mũi gây thở khò khè, thường phải thở bằng miệng và phải ngưng lại nhiều lần để thở khi bú. Hiện tượng viêm mũi tái đi tái lại nhiều lần có thể là dấu hiệu của bệnh V.A, Amiđan.
    3. V.A - sùi vòm: bệnh phổ biến ở trẻ em 3-7 tuổi. V.A là nơi sản xuất ra kháng thể chống lại vi trùng xâm nhập vào cơ thể, đồng thời cũng là nơi tập trung vi trùng nếu không còn khả năng tiêu diệt. Trẻ viêm V.A thường gầy yếu, kém nhanh nhẹn, chảy nước mũi thường xuyên, ban đầu là nước mũi trong sau đục mủ vàng hoặc xanh, bị nóng sốt vặt kèm ho nhiều, trong tai có thể chảy mủ, ngáy to khi ngủ do mũi bị nghẹt và phải thở bằng miệng. Ngoài ra, viêm V.A khiến trẻ dễ bị suy dinh dưỡng.



    4. Viêm amiđan: Amiđan cũng có công dụng như V.Ạ Trẻ bị viêm amiđan cấp sẽ sốt cao từ 39-40 độ C, đau họng, khó nuốt, chảy nước miếng nhiều, mệt mỏi, biếng ăn, biếng chơi. Viêm Amiđan rất dễ gây biến chứng nếu không được điều trị đúng.
    5. Viêm họng cấp: là bệnh thường xảy ra vào mùa đông, gặp cả ở người lớn và trẻ em. Triệu chứng đầu tiên là đau họng khi nuốt, kèm theo sốt, khàn tiếng. Nguyên nhân gây bệnh là loại vi khuẩn liên cầu tan máu beta nhóm Ạ Bệnh có thể gây đau khớp, biến chứng dẫn đến bệnh thấp tim ở trẻ em.
    6. Viêm xoang: thường xảy ra sau những bệnh về mũi như sổ mũi mùa, nghẹt mũi, viêm mũi. Nhức đầu là biểu hiện nổi bật trong viêm xoang. Ngoài ra người bệnh còn bị nghẹt mũi, nước mũi đặc, cần được chụp phim để xác định tình trạng xoang bị viêm.
    7. Viêm phế quản: có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào, thường sau khi thay đổi thời tiết, hoặc bị viêm họng, viêm mũi... Nhiều trường hợp trẻ chỉ sổ mũi trong, ho nhẹ vài cái, vẫn chơi, ăn uống bình thường. Nếu tình trạng này kéo dài, không điều trị đúng, trẻ dễ dẫn đến biến chứng bội nhiễm vi trùng gây viêm phế quản phổi rất nguy hiểm.
    8. Bệnh suyễn (hen phế quản): thường gặp ở trẻ có cơ địa dị ứng như có bệnh chàm, nổi mề đay, ngứa... Khó thở là biểu hiện điển hình, khó thở khi thở kéo dài làm phập phồng cánh mũi, gây co kéo hõm ức, tiếng thở khò khè, môi tím, vẻ mặt sợ hãi. Nhiều trường hợp khó thở cấp tính cần xử trí cấp cứu kịp thời.
    9. Sốt xuất huyết: bệnh do muỗi truyền, có thể xuất hiện quanh năm, nhưng phát triển mạnh vào mùa mưa, không khí ẩm thấp. Bệnh hay gặp ở trẻ em, đặc biệt là dưới 10 tuổi. Biểu hiện của bệnh là sốt cao đột ngột và liên tục (39-40 độ C) trong vòng 2-4 ngày, có thể xuất hiện dấu xuất huyết dưới da mọc thành từng đám rải rác, có thể xuất huyết ở niêm mạc miệng, đi tiêu phân máu...
    Chú ý:
    - Trẻ đang sốt cao liên tục, đột nhiên nhiệt độ hạ thấp, lờ đờ, chân tay lạnh là biểu hiện của sốc cần được xử trí cấp cứu kịp thời.
    - Nếu nghi ngờ trẻ bị sốt xuất huyết, tuyệt đối không cho trẻ dùng thuốc hạ sốt loại Aspirin vì dễ làm tăng nguy cơ chảy máu, nên cho uống thuốc giảm sốt loại Paracetamol.
    Biện pháp phòng bệnh mùa đông:
    - Cần chăm sóc trẻ chu đáo, tránh nhiễm lạnh do mưa, giữ ấm, tránh gió lạnh về chiều. Không nên nằm ngủ trong phòng máy lạnh kéo dài hay để quạt suốt đêm.
    - Cần vệ sinh ăn uống, vệ sinh răng miệng thường xuyên cho trẻ để tránh nhiễm trùng.
    - Rửa tay sạch sẽ, không cho trẻ mút tay, ngoáy mũi.
    - Bố trí phòng ở thoáng mát, sạch sẽ, tiêu diệt muỗi, thông thoát nước tốt, tránh để nước đọng vũng tạo môi trường ẩm thấp.
    - Cần chủng ngừa cho trẻ đầy đủ theo chương trình quy định.
    - Theo dõi và đi khám bệnh sớm, tránh để bệnh tiến triển gây biến chứng nguy hiểm.

    ____________________________________________________________
    Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

    Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

    Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

    LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
    Đọc tiếp →

    20 tháng 2, 2011

    Nhiễm khuẩn hô hấp hay gặp ở trẻ nhỏ và cách xử trí

    Theo Tổ chức Y tế Thế giới, hàng năm trên thế giới có khoảng 12,9 triệu trẻ em tử vong, trong đó có 4,3 triệu trẻ tử vong vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT) mà 95% là ở các nước đang phát triển. Trẻ nhỏ dưới 1 tuổi là nhóm trẻ dễ bị NKHHCT nhất. Ngoài thể phổ biến hay gặp nhất là viêm mũi họng cấp tính, trẻ nhỏ thường bị các thể nặng như: viêm nắp thanh quản, viêm thanh quản, viêm tiểu phế quản và viêm phế quản - phổi.

    Viêm mũi họng cấp tính
    Đây là thể bệnh thường gặp nhất, chiếm khoảng 50-70% số trẻ bị bệnh. Vì trẻ nhỏ chỉ thở bằng mũi (trong khi trẻ lớn và người lớn thở cả qua mũi và miệng) nên chỉ cần nghẹt mũi đã gây triệu chứng khó thở nặng. Biểu hiện chủ yếu của thể bệnh này là sốt nhẹ hoặc không, kèm theo viêm long hô hấp (ho, chảy nước mũi), quấy khóc, khó bú, khó ngủ và thường thở há miệng do tắc đường thở chính là mũi. Trẻ có thể thở nhanh hơn bình thường, đôi khi co rút lồng ngực, đầu gật gù theo nhịp thở nhưng ít khi bị tím tái. Khám thường thấy các khoang mũi hẹp hoặc tắc hẳn do viêm phù nề, niêm mạc mũi đỏ rực, nhiều dịch xuất tiết trong hoặc đục như mủ, đôi khi quánh dính hoặc khô cứng thành cục dày bịt kín 1 hoặc cả 2 bên lỗ mũi. Thành trước, thành sau họng và 2 tuyến hạnh nhân khẩu cái (amidan) cũng thường bị viêm phù nề đỏ rực, nhưng ít khi có mủ hoặc giả mạc như viêm họng ở trẻ lớn và người lớn.


    Khám hô hấp cho trẻ.
    Nguyên nhân chủ yếu gây viêm mũi họng cấp ở trẻ nhỏ là các vi khuẩn, virus đường hô hấp; hàng đầu là vi khuẩn hợp bào đường hô hấp (>80%), rồi đến rhinovirus, adenovirus và các virus cúm A và B. Chính vì vậy, biện pháp điều trị chủ yếu là hỗ trợ, làm thông mũi họng bằng vệ sinh, rửa sạch đường hô hấp trên bằng cách nhỏ các dung dịch sát khuẩn như nước muối sinh lý (dạng giọt hay dạng xịt khác nhau, các thuốc sát khuẩn ít kích thích như argyron 1-2%, ngày 3-4 lần; hút sạch dịch mũi. Có thể dùng thuốc chống phù nề niêm mạc đường mũi họng loại gây co mạch nhẹ (nồng độ thấp) như otilin hay otrivin nồng độ 0,05% dành cho trẻ em. Thời gian dùng thuốc co mạch thường không quá 3-5 ngày. Chú ý không dùng kéo dài, không dùng loại thuốc co mạch có nồng độ cao của người lớn để nhỏ mũi cho trẻ em vì có thể gây tai biến nặng như co giật, hoại tử niêm mạc mũi.
    Viêm nắp thanh quản cấp
    Đây là thể bệnh ít gặp hơn so với viêm mũi họng cấp tính nhưng rất nguy hiểm, vì có thể gây tử vong nhanh chóng nếu không phát hiện sớm và chữa trị cẩn thận.
    Bệnh chủ yếu do một loại vi khuẩn có tên là haemophylus influenzae gây nên viêm cấp tính phù nề nắp thanh quản, làm lấp kín lối vào của luồng khí thông thường vào phổi qua thanh quản, gây ngạt từ vừa đến nặng tùy theo mức độ phù nề của nắp thanh quản. Trẻ thường không ho nhưng sốt rất cao, vật vã kích thích, bỏ bú và chảy nhiều đàm nhớt do đau họng không nuốt được. Trẻ thường không chịu nằm vì khi nằm, nắp thanh thiệt đóng kín đường thở, nên trẻ thường chỉ ngồi (kể cả khi ngủ) để dễ thở. Hạch dưới hàm thường sưng to và đau cả 2 bên. Trẻ chống đối khi dùng đè lưỡi khám họng. Nếu cố tình đè vào vùng sau lưỡi có thể gây ngừng thở đột ngột do đau và do phản xạ cường phó giao cảm ở những bệnh nhi này. Bệnh nhi cần được các thầy thuốc có kinh nghiệm khám và điều trị tại bệnh viện. Thường trẻ phải thở máy và được tiêm kháng sinh đường tĩnh mạch liều cao từ 5-7 ngày.


     Cho trẻ thở khí dung.
    Viêm thanh quản cấp
    Bệnh gặp khá phổ biến ở trẻ từ 6 tháng đến 5 tuổi, do virus đường hô hấp gây viêm phù nề cấp tính vùng thanh quản (2 dây thanh đới và vùng lân cận) làm chít hẹp hoặc tắc hẳn đường ra – vào phổi của luồng không khí. Bệnh thường xảy ra rất đột ngột về đêm, sau vài giờ viêm long đường hô hấp trên. Khởi đầu trẻ ho nhiều và tiếng ho “ông ổng”, khóc khàn. Sau một vài giờ hay ngắn hơn, trẻ đột nhiên mất tiếng, mất ho, xuất hiện khó thở thanh quản cấp tính (khó thở chậm, khó thở vào, thở ngửa đầu ra sau, co kéo các cơ hô hấp phụ). Bệnh cảnh rất nguy kịch và trẻ có thể ngừng thở nhanh chóng sau một thời gian gắng sức dữ dội để thở nhưng thất bại. Cần đưa ngay trẻ có ho “ông ổng” và thở co kéo nặng đến bệnh viện để kịp thời cứu chữa. Chậm trễ trong chốc lát có thể trẻ tử vong ngay trước mắt người nhà và thầy thuốc. Việc điều trị khi trẻ đến viện sớm có thể rất đơn giản bằng khí dung các thuốc co mạch mạnh như adrenalin và các chế phẩm corticoid tiêm tĩnh mạch và khí dung. Khi trẻ đến muộn, hiện tượng tắt thở đã nặng, việc điều trị trở nên phức tạp, chủ yếu là mở khí quản cấp cứu, vì thanh quản phù nề nặng, không thể đưa ống nội khí quản qua để cho trẻ thở máy được nữa.
    Các nhiễm khuẩn cấp tính tại phổi
    Viêm tiểu phế quản
    Đây là bệnh lý nặng, thường gặp ở trẻ nhỏ dưới 1 tuổi, đặc biệt trẻ dưới 6 tháng, trẻ trai và trẻ bụ bẫm thường hay bị nặng do đường thở hẹp tương đối so với trẻ khác. Bệnh có thể xảy ra quanh năm, nhưng chủ yếu vào mùa lạnh, khi thay đổi thời tiết. Khởi đầu giống viêm mũi họng cấp tính, ít khi có sốt cao, nhưng sau 2 - 3 ngày, trẻ trở nên nặng: thở nhanh, co rút lồng ngực khi thở, thở khò khè, bỏ ăn, kích thích vật vã, khó ngủ và đặc biệt là ho cơn kéo dài gây khó thở và nôn trớ. Khám phổi có các biểu hiện ứ khí phổi: lồng ngực căng, khoang liên sườn giãn rộng, gõ trong, rì rào phế nang giảm do tắc nghẽn nặng đường thở, đặc biệt là khi thở ra rất khó khăn nên trẻ thường phải cố gắng để đẩy khí ra khỏi phổi làm thì thở ra kéo rất dài, nhiều ran ngáy, ran rít và cả ran ẩm khắp 2 bên phổi. Bệnh thường diễn biến nặng dễ gây tử vong trong 1 – 2 tuần đầu, nhưng ho và khò khè có thể kéo dài vài tuần đến vài tháng gây cản trở giấc ngủ, khó ăn, nôn dẫn đến suy dinh dưỡng và nhất là bội nhiễm vi khuẩn tại phổi. Trẻ cần được nhập viện vì việc điều trị thường gặp nhiều khó khăn do kháng sinh không có tác dụng, trừ khi bội nhiễm vi khuẩn. Chủ yếu là điều trị hỗ trợ làm thông đường hô hấp, đặc biệt là làm thông mũi họng và tạo điều kiện để trẻ ho có hiệu quả (ho mạnh, đờm loãng, sau vài tiếng ho đã tống được đờm dãi gây tắc ra khỏi đường thở), bằng nuôi dưỡng tốt, đủ dịch, dùng thuốc long đờm. Đặc biệt chú ý không dùng các thuốc giảm ho làm mất hiệu quả tống đờm (gây ngủ, gây quánh đờm, gây ức chế trung tâm thở) như các chế phẩm có kháng histamin (phenergan, theralen) vì có thể gây tử vong nhanh chóng. Khi trẻ khó thở, cần cho thở oxy sớm và đúng cách.
    Viêm phế quản phổi
    Đây là bệnh viêm phổi phổ biến nhất ở trẻ em dưới 3 tuổi. Bệnh cảnh gần giống như viêm tiểu phế quản, nhưng nguyên nhân thường do các vi khuẩn phổ biến gây viêm đường hô hấp như: phế cầu, haemophylus influenzea, braxella catarhalis, liên cầu và tụ cầu. Trẻ thường có sốt, có thể sốt cao, dịch tiết mũi họng màu xanh hoặc đục như mủ, thở nhanh, khò khè giống viêm tiểu phế quản, nhưng ít có hiện tượng tắc nghẽn hơn nên thường khó thở cả thì thở ra và thở vào. Nghe phổi có thể có ít ran ngáy, ran rít, nhưng chủ yếu là nhiều ran ẩm nhỏ và vừa hạt khắp 2 bên phổi. Hình ảnh X – quang phổi thấy nhiều chấm nốt mờ rải rác 2 bên phổi, tập trung nhiều ở phía gần tim. Xét nghiệm máu thấy có các biểu hiện viêm cấp tính của cơ thể như: tăng số lượng bạch cầu và tăng tỷ lệ bạch cầu đa nhân trung tính, protein C phản ứng cấp (CRP: C reactive protein) tăng cao, pro-calcitonin tăng cao. Trẻ cần được điều trị tại bệnh viện. Ngoài các biện pháp không đặc hiệu như trong viêm tiểu phế quản, sử dụng kháng sinh thích hợp có tác dụng điều trị tốt, vì có thể tiêu diệt được nguyên nhân gây bệnh là các vi khuẩn.

    ________________________________________________________________
    Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

    Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

    Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

    LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
    Đọc tiếp →

    19 tháng 2, 2011

    Nhận biết và xử trí viêm ruột thừa ở trẻ em

    Ruột thừa là một cơ quan nhỏ như ngón tay, dính với ruột già nằm ở phía dưới bên phải của ổ bụng. Bên trong ruột thừa hình thành một túi cùng thường mở ra vào ruột già. Khi hoạt động mở của chiếc túi cùng này bị cản trở, ruột thừa sưng lên và có thể dễ bị nhiễm trùng bởi vi khuẩn.

    Nếu ruột thừa bị nhiễm trùng không được cắt bỏ, nó có thể vỡ và truyền vi khuẩn đi, gây nhiễm trùng khắp vùng bụng, có thể dẫn đến các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng.
    Viêm ruột thừa thường ảnh hưởng đến trẻ, đặc biệt trẻ trong độ tuổi 11-20. Phần lớn các ca bệnh xảy ra từ tháng 5 đến tháng 10. Những trẻ mà tiền sử gia đình có người bị viêm ruột thừa có thể tăng nguy cơ mắc bệnh này, đặc biệt ở bé trai. 


    Viêm ruột thừa không phải là nguyên nhân thường gây ra đau bụng, nhưng các bậc cha mẹ có khuynh hướng lo lắng nhiều về chứng bệnh này khi nó xảy ra với trẻ. Điều quan trọng là phải biết cách nhận ra các dấu hiệu của căn bệnh này và phân biệt nó với bệnh đau dạ dày để trẻ được chăm sóc y tế thích hợp.
    Không có cách nào để ngăn ngừa viêm ruột thừa. Nhưng với các phương pháp kiểm tra và xét nghiệm tinh vi hiện nay, cùng với kháng sinh, hầu hết các trường hợp bệnh viêm ruột thừa có thể được xác định và điều trị mà không gây biến chứng.
    Các triệu chứng đặc trưng của viêm ruột thừa thường bắt đầu bằng sốt nhẹ, đau xung quanh rốn, và có thể đi kèm với nôn mửa, tiêu chảy hay táo bón...
    - Đau bụng dữ dội, đặc biệt vùng quanh rốn hay vùng bụng dưới bên phải (cơn đau có thể bắt đầu xuất hiện rồi hết, sau đó trở thành cơn đau kéo dài và đau nhói).
    - Sốt nhẹ.
    - Không muốn ăn.
    - Buồn nôn và nôn mửa.
    - Tiêu chảy (đặc biệt tiêu ít và có nước nhầy).
    - Thường xuyên đi tiểu và/hoặc cảm thấy nặng bụng buộc phải đi tiểu.
    - Bụng sưng hoặc trướng lên, đặc biệt ở trẻ nhỏ.
    Nếu viêm ruột thừa không được điều trị thì ruột thừa bị viêm có thể vỡ trong vòng 24 - 27 giờ sau khi các triệu chứng bắt đầu xuất hiện. Nếu ruột thừa bị vỡ, cơn đau ở trẻ có thể lan ra khắp vùng bụng và trẻ có thể bị sốt rất cao.
    Nếu nghi ngờ trẻ bị viêm ruột thừa, hãy đưa ngay trẻ đến cơ sở y tế gần nhất, tuyệt đối không tự ý cho trẻ uống thuốc hoặc cho trẻ ăn hay uống bất cứ thứ gì.

    _____________________________________________________________
    Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

    Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

    Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

    LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
    Đọc tiếp →

    18 tháng 2, 2011

    Khó thở ở trẻ em - khi nào cần cấp cứu?

    Trong các bệnh về hô hấp ở trẻ em thì khó thở thanh quản là một trong những bệnh được đặt trong tình trạng cấp cứu. Hiện nay số trẻ nhập viện vì các bệnh ở đường hô hấp đang tăng lên, nhiều trường hợp đến viện trong tình trạng bệnh rất nặng gây khó khăn cho công tác điều trị. Nhận biết bệnh và phòng bệnh tốt cho trẻ là điều cần thiết đối với các bậc cha mẹ.

    Các mức độ nguy hiểm của bệnh
    Hầu hết trẻ bị khó thở thanh quản đều có những dấu hiệu như hít thở khó, thở chậm, nghe có tiếng rít thanh quản khi thở, xuất hiện các cơn co kéo hô hấp nhất là tình trạng lõm ức và rút lõm lồng ngực. Bên cạnh đó trẻ còn có những triệu chứng khác như khàn tiếng hay mất tiếng khi nói, ho, khóc. Đầu trẻ thường bị gật gù khi thở và hay bị ngửa ra sau trong thì hít vào. Nếu quan sát sẽ thấy sụn thanh quản nhô lên khi hít vào, mặt trẻ bị nhăn lại, hai cánh mũi nở rộng.
    Để chẩn đoán mức độ khó thở thanh quản của trẻ người ta chia ra 3 mức độ nặng, nhẹ khác nhau, đây là yêu cầu rất cần thiết để có thể đưa ra những xử trí đúng đắn nhất.
    Mức độ 1: Trẻ xuất hiện khàn và rè tiếng khi khóc, nói nhưng tiếng ho có thể vẫn còn trong hoặc hơi rè. Biểu hiện khó thở chưa điển hình, tiếng rít thanh quản nhẹ hoặc chưa rõ, cơn co kéo hô hấp ít. Tình trạng toàn thân chưa ảnh hưởng, trẻ vẫn còn chơi, chưa quấy khóc nhiều.
    Mức độ 2: Trẻ bị mất tiếng, nói không rõ từ, tiếng ho trở nên ông ổng. Lúc này triệu chứng khó thở thanh quản rất điển hình, tiếng rít thanh quản rõ, cơn co kéo hô hấp mạnh. Trẻ xuất hiện trạng thái kích thích, vật vã, hốt hoảng, lo sợ.
    Mức độ 3: Trẻ bị mất tiếng hoàn toàn, khóc hoặc nói không thành tiếng, nghe phều phào. Ngay cả khi ho cũng không thành tiếng hoặc muốn ho mà không ho được. Biểu hiện khó thở trở nên dữ dội, có triệu chứng thiếu ôxy nặng nề, lúc này trẻ có thể bị tím tái, rối loạn nhịp thở. Toàn thân trẻ bị ảnh hưởng thần kinh (hôn mê, lờ đờ hay vật vã...), tim mạch, da tái vã mồ hôi...


     Trẻ khó thở có nguyên nhân thanh quản bị tổn thương.
    Trẻ cần được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt
    Tất cả những trường hợp khó thở thanh quản đều cần được theo dõi chặt chẽ và xử trí bệnh kịp thời, đặc biệt là tình trạng cấp tính. Nếu trẻ có nguyên nhân bị dị vật đường thở phải nhanh chóng lấy dị vật khỏi thanh quản. Nhiều trường hợp nặng phải mở nội khí quản, thở ôxy. Tùy theo từng nguyên nhân gây bệnh và mức độ bệnh, các bác sĩ sẽ chỉ định sử dụng các loại thuốc khác nhau.
    Khó thở thanh quản là bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra trong đó có những nguyên nhân có thể dự phòng được. Các bậc cha mẹ không nên để trẻ ngậm đồ vật dễ gây hóc, mặt khác còn gây nhiễm khuẩn, giun sán. Nên vệ sinh sạch sẽ cho bản thân trẻ và người chăm sóc trẻ, nhất là vệ sinh trước khi cho trẻ ăn và sau khi đi vệ sinh. Cần tiêm phòng đầy đủ cho trẻ theo lịch tiêm chủng. Mang lại cho trẻ một không gian sống thoáng, sạch. Nếu thấy có những dấu hiệu bất thường ở đường hô hấp nên đưa trẻ đi khám ở các chuyên khoa hô hấp để phát hiện bệnh và điều trị sớm.
    Virut, vi khuẩn là những thủ phạm gây bệnh
    Trong trường hợp trẻ bị khó thở thanh quản cấp tính thường là do những nguyên nhân như dị vật đường thở, đây là do trong quá trình ăn, ngậm thức ăn hoặc đồ vật nào đó bị rơi vào thanh quản. Trường hợp này rất hay gặp, nhất là khi trẻ vừa ăn vừa chơi không tập trung. Viêm thanh quản cấp là một nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng này, bệnh xuất hiện có thể do vi khuẩn (H.influenzae, streptocoque, staphylocoque) hoặc do virut (hay gặp nhất là virut cúm, sau đó là virut nhóm myxovirut); Những trẻ bị còi xương và nhiễm khuẩn nặng ở họng, đau không nuốt, nói được cũng hay mắc phải tình trạng khó thở thanh quản cấp tính. Bên cạnh đó bệnh bạch hầu thanh quản và viêm thanh quản do sởi cũng là những yếu tố quan trọng khiến trẻ rơi vào tình trạng cấp cứu này.
    Các trường hợp khó thở mạn tính có thể do mềm sụn thanh quản, dị dạng sụn thanh quản, (trong những trường hợp này trẻ sẽ có tiếng thở rít thanh quản bẩm sinh) hoặc do hẹp thanh quản mạn tính (do hậu quả của chấn thương hoặc hẹp thanh quản do u máu, dị dạng bẩm sinh...). Khó thở mạn tính còn do papillon thanh quản, đó là loại u nhú, lành tính ở thanh quản, u phát triển nhanh, tái phát gây khó thở thanh quản từ từ. Để xác định chính xác cần phải soi thanh quản.

    ____________________________________________________________
    Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

    Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

    Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

    LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
    Đọc tiếp →

    17 tháng 2, 2011

    Bệnh thường gặp ở trẻ khi giao mùa

    Hiện nay, thời tiết đang thay đổi bất thường là điều kiện cho bệnh dịch phát triển, nhất là ở học sinh tiểu học. Thầy cô giáo và các bậc phụ huynh nên chú ý nhiều hơn đến sức khỏe con trẻ.

    Đau họng
    Do 1 loại vi khuẩn gây ra.
    Triệu chứng: các triệu chứng thường xảy ra bất ngờ như: sưng họng, ớn lạnh, sốt, đau đầu, buồn nôn và thậm chí thỉnh thoảng bị nôn. Họng tấy đỏ và amiđan sưng, đôi khi có hạch.
    Chữa trị: cần đến bác sĩ để kiểm tra họng, chẩn đoán loại bệnh. Bác sĩ sẽ cho uống kháng sinh trong 10 ngày. Ở nhiều trường hợp, học sinh có thể đi học sau 1 ngày uống thuốc.
    Cảm/cúm
    Cảm do virus gây ra và lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc trực tiếp với người bệnh. Cúm là bệnh về đường hô hấp do virus. Bệnh lây lan qua nước bọt, nước mũi/đờm của người mang bệnh.

    Thời tiết đang thay đổi bất thường là điều kiện cho
    bệnh dịch phát triển, nhất là ở học sinh tiểu học
    Triệu chứng: người bị cảm thường nghẹt mũi, chảy nước mũi, sốt, đau đầu, ho, sưng họng hoặc mệt mỏi. Bệnh cúm thường có triệu chứng sốt, đau các cơ, ho khan, chảy nước mũi, nghẹt mũi, đau đầu và mệt mỏi.
    Chữa trị: không có thuốc nào chữa 2 loại bệnh trên nhưng hãy cho trẻ nghỉ ngơi và uống nhiều nước. Nên cho trẻ nghỉ học vài ngày. Hiện đã có vắc-xin phòng cúm nhưng nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi đưa trẻ đi tiêm.
    Đầu có chấy
    Đây là hiện tượng dễ lây lan nhất trong trường học, do trẻ thường chơi cùng nhau hoặc đội chung mũ nón.
    Triệu chứng: trẻ bị ngứa da đầu. Đôi khi nổi hạch vùng cổ.
    Chữa trị: chấy đẻ trứng màu trắng trên tóc người nên có thể nhìn thấy được, đôi khi ta nhầm tưởng là gàu. Nếu bạn muốn loại bỏ chúng, hãy hỏi ý kiến bác sĩ để có loại dầu gội diệt chấy phù hợp. Bạn cũng nên giặt giũ chăn chiếu, quần áo cho trẻ, đừng quên tắm cho vật cưng nuôi trong nhà và nên phơi chúng dưới trời nắng ít nhất 2 ngày.
    Bệnh ban đỏ
    Hầu hết trẻ mắc bệnh này trước khi học mẫu giáo, nhưng cũng có những trẻ gặp phải khi học tiểu học.
    Triệu chứng: biểu hiện rõ nhất là trên má trẻ bất ngờ xuất hiện những vệt đỏ như kiểu bị ai tát. Vệt ban đỏ này xuất hiện rồi biến mất trong hàng tuần.
    Chữa trị: bệnh do lây nhiễm virus vì thế không thể làm được gì ngoài việc điều trị những triệu chứng. Con bạn có thể truyền bệnh khi mẩn đỏ chưa xuất hiện còn khi đã có biểu hiện thì không lây sang người khác nữa.
    Viêm màng kết
    Hay còn gọi là bệnh đau mắt đỏ, lây lan nhanh do mắt tiếp xúc với tay bẩn, quần áo và khăn mặt.
    Triệu chứng: mắt đỏ và cộm. Đôi khi chảy nước vàng và có rỉ mắt vào ban đêm.
    Chữa trị: cách chữa trị phụ thuộc vào nguyên nhân gây bệnh. Nếu do vi khuẩn, bác sĩ sẽ kê đơn thuốc nhỏ mắt chứa kháng sinh. Nếu bệnh do virus thì bệnh sẽ tự khỏi.
    Bệnh thủy đậu
    Là loại bệnh thường gặp nhất và dễ nhận biết nhất ở trẻ nhỏ. Trẻ rất dễ mắc bệnh này. Bệnh lây lan do người bệnh ho phát tán virus trong không khí và người lành hít phải.
    Triệu chứng: triệu chứng bệnh chỉ xuất hiện sau 10 - 21 ngày từ khi nhiễm virus. Những vết phồng đỏ mọng nước nổi lên trên da. Chúng gây ngứa và sau đó đóng vảy.
    Chữa trị: hầu hết các trường hợp mắc bệnh chỉ được điều trị các triệu chứng. Bạn nên tham khảo ý kiến bác sĩ để có chỉ định tiêm vắc-xin phòng thủy đậu.

    _______________________________________________________________________
    Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

    Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

    Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

    LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
    Đọc tiếp →